Lập lý lịch tư pháp – Một số điểm cần lưu ý
Sign In

Lập lý lịch tư pháp – Một số điểm cần lưu ý

04/05/2015

Lý lịch tư pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án bằng bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, tình trạng thi hành án và về việc cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị Tòa án tuyên bố phá sản. Lập Lý lịch tư pháp là tập hợp các thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã được cập nhật và xử lý theo quy định. Lập Lý lịch tư pháp một trong những hoạt động nghiệp vụ cơ bản và rất quan trọng để xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp được xây dựng và quản lý theo 2 cấp là: Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Bộ Tư pháp và tại các Sở Tư pháp.

 

Để thực hiện tốt công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thì điều kiện quyết định là phải có đội ngũ cán bộ chuyên môn nắm vững các kiến thức cơ bản về lý lịch tư pháp, đồng thời cũng cần am hiểu kiến thức pháp luật khác có liên quan như pháp luật về hình sự, tố tụng hình sự, thành lập, quản lý, phá sản doanh nghiệp, pháp luật về tương trợ tư pháp, kỹ năng phân tích bản án hình sự...Bài viết này nhằm cung cấp một phần kỹ năng lập Lý lịch tư pháp nhằm tăng cường xây dựng cơ sở dữ liệu Lý lịch tư pháp.

1. Lý lịch tư pháp và mục đích, ý nghĩa của lập Lý lịch tư pháp

Khoản 1 Điều 4 Luật Lý lịch tư pháp quy định: Lý lịch tư pháp chỉ được lập trên cơ sở bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; quyết định của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy, chỉ khi một người có bản án, quyết định hình sự của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản đã có hiệu lực pháp luật thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp mới tiến hành lập Lý lịch tư pháp của người đó.

 Lập Lý lịch tư pháp là hoạt động xử lý, cập nhật, sắp xếp thông tin lý lịch tư pháp theo nguyên tắc cá thể hóa và đưa vào lưu trữ trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Mục đích của hoạt động lập Lý lịch tư pháp là thu thập, cập nhật thông tin lý lịch tư pháp về án tích, thông tin lý lịch tư pháp về cấm đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp, phục vụ yêu cầu tra cứu thông tin, cấp Phiếu lý lịch tư pháp và yêu cầu quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

2. Thẩm quyền lập Lý lịch tư pháp

Việc lập Lý lịch tư pháp của cá nhân thuộc thẩm quyền của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và Sở Tư pháp.

a) Thẩm quyền của Sở Tư pháp (Khoản 1 Điều 26 Luật Lý lịch tư pháp)

Sở Tư pháp nơi người bị kết án thường trú có thẩm quyền lập Lý lịch tư pháp của người đó; trường hợp không xác định được nơi thường trú thì Sở Tư pháp nơi người bị kết án tạm trú lập Lý lịch tư pháp.

Lý lịch tư pháp được lập thành hai bản, một bản do Sở Tư pháp quản lý, một bản được chuyển đến Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

b) Thẩm quyền của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia (Khoản 2 Điều 26 Luật Lý lịch tư pháp)

Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia lập và lưu giữ Lý lịch tư pháp trong các trường hợp sau đây:

- Không xác định được nơi thường trú hoặc nơi tạm trú của người bị kết án, bao gồm cả người người nước ngoài mà không xác định được nơi thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam;

- Người bị kết án được chuyển giao để chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam;

- Nhận được bản sao trích lục bản án hoặc trích lục án tích của công dân Việt Nam do Viện kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp theo quy định tại Điều 17 của Luật Lý lịch tư pháp.

3. Nội dung của Lý lịch tư pháp

Lý lịch tư pháp được lập trên cơ sở nguồn thông tin lý lịch tư pháp về án tích quy định tại Điều 15 của Luật Lý lịch tư pháp. Lý lịch tư pháp được lập riêng cho từng người bị kết án với các nội dung sau đây:

- Thông tin về nhân thân: họ, tên, giới tính, ngày, tháng, năm sinh, nơi sinh, quốc tịch, nơi cư trú, số giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, họ, tên cha, mẹ, vợ, chồng của người đó;

- Nội dung bản án: ngày, tháng, năm tuyên án, số bản án, Toà án đã tuyên bản án, tội danh, điều khoản luật được áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung, nghĩa vụ dân sự trong bản án hình sự, án phí;

- Tình trạng thi hành án: cập nhật các thông tin về tình trạng thi hành bản án từ khi có quyết định thi hành án đến khi người bị kết án đã chấp hành xong bản án, được đặc xá, đại xá, được xóa án tích.

4. Trình tự và các bước thực hiện lập Lý lịch tư pháp

Khi nhận được thông tin lý lịch tư pháp do Tòa án và các cơ quan có liên quan cung cấp, cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp phải xác định:

- Thông tin đó có thuộc thẩm quyền lập Lý lịch tư pháp của Sở Tư pháp không?

- Thông tin này đã được lập Lý lịch tư pháp hay chưa?

Nếu thông tin lý lịch tư pháp đó là thông tin thuộc thẩm quyền lập lý lịch tư pháp của Sở Tư pháp và chưa được lập Lý lịch tư pháp  trong cơ sở dữ liệu của Sở Tư pháp, thì cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp thực hiện việc lập Lý lịch tư pháp theo mẫu số 01/2013/TT-LLTP ban hành kèm theo Thông tư số 16/2013/TT-BTP) theo các bước sau đây:

4.1. Lập mã số Lý lịch tư pháp (khoản 3 Điều 1 Thông tư số 16//2013/TT-BTP):  Mã số Lý lịch tư pháp được lập trên cơ sở Bảng mã Lý lịch tư pháp của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp ban hành kèm theo Thông tư số 16. Trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp mỗi người chỉ có duy nhất một mã số Lý lịch tư pháp.

Cách lập mã số Lý lịch tư pháp:

-  Mã số Lý lịch tư pháp bao gồm: mã Lý lịch tư pháp thuộc thẩm quyền lập của Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hoặc Sở Tư pháp, năm lập Lý lịch tư pháp, số thứ tự lập Lý lịch tư pháp;

-  Mã Lý lịch tư pháp thuộc thẩm quyền lập của Sở Tư pháp được quy định trong Bảng mã Lý lịch tư pháp của cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp. Mã của Sở Tư pháp bao gồm số thứ tự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo bảng chữ cái tiếng Việt bắt đầu từ số thứ tự 02 và tên viết tắt của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có Sở Tư pháp

-  Số thứ tự lập Lý lịch tư pháp gồm 05 chữ số, bắt đầu từ số 00001. Số thứ tự này sẽ quay vòng theo từng năm (từ ngày 01/01 đến ngày 31/12). Sau một năm, số thứ tự sẽ trở về 00001.

Ví dụ: Mã số Lý lịch tư pháp của Nguyễn Văn A được lập: 25HN2013/00001, trong đó:

- “25HN” là mã Lý lịch tư pháp thuộc thẩm quyền lập của Sở Tư pháp thành phố Hà Nội;

- “2013” là năm lập Lý lịch tư pháp cho Nguyễn Văn A;

- “00001” là số thứ tự lập Lý lịch tư pháp của Nguyễn Văn A.

4.2. Cập nhật thông tin về cá nhân của người bị kết án:

- Họ và tên của người bị kết án: phải ghi chính xác họ và tên của người bị kết án như trong bản án hoặc trích lục được gửi đến. Nếu người bị kết án có tên gọi khác hoặc có bí danh thì cần phải ghi cụ thể, rõ ràng trong mục “Tên khác”

- Giới tính: Ghi rõ giới tính là “nam” hay “nữ”, nếu có thông tin

- Ngày tháng năm sinh: ghi chính xác ngày tháng năm sinh của đương sự. Nếu trong thông tin chỉ có tháng và năm sinh, thì cập nhật tháng và năm sinh. Nếu thông tin chỉ có năm sinh, thì ghi năm sinh.

- Nơi sinh, dân tộc, quốc tịch: Nếu có thông tin thì ghi rõ, trường hợp không có thông tin thì để trống.

- Nơi thường trú, nơi tạm trú: ghi cụ thể chi tiết đến số nhà, xã, phường, huyện, quận, tỉnh, thành phố theo như thông được ghi trong trích lục bản án.

- Số chứng minh nhân dân: Trường hợp nếu có thông tin thì ghi, nếu không có thông tin thì để trống.

- Số định danh cá nhân: Hiện nay số định danh cá nhân chưa có do các cơ quan có thẩm quyền đang xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Số định danh cá nhân sau nay sẽ là “chìa khóa” kết nối thông tin cá nhân giữa cơ sở dữ liệu quốc gia lý lịch tư pháp và các cơ sở dữ liệu khác, trong đó có cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

- Họ và tên cha, Họ và tên mẹ, Họ và tên vợ ( hoặc chồng):Phải ghi rõ thông tin. Trong trường hợp cha,mẹ đã chết thì vẫn phải ghi rõ họ và tên và phải ghi rõ là chết.

- Ghi chú: Dùng để ghi chú trong các trường hợp đương sự có sự thay đổi về thay đổi, cải chính hộ tịch như họ tên, ngày tháng năm sinh….

* Một số điểm cần lưu ý trong phần cập nhật thông tin về cá nhân:

- Ghi chính xác họ và tên của cá nhân. Nhiều trường hợp ghi nhầm lẫn giữa tên của cá nhân và tên của cha,mẹ

- Nếu trong thông tin có cả thông tin về nơi thường trú và tạm trú, thì trong phần ghi “Nơi thường trú và “Nơi tạm trú” thì ghi cả hai nơi.Nếu chỉ có thông tin một nơi thì ghi thông tin của một nơi. Sử dụng bảng mã danh mục địa phương trên Phần mềm quản lý lý lịch tư pháp dùng chung cho các Sở Tư pháp ( sau đây gọi là Phần mềm) để lựa chọn cho chính xác, chỉ thực hiện nhập đối với các thông tin liên quan đến nơi thường trú và tạm trú đến cấp xã, phường ( ví dụ nhập thông tin về số nhà, đường, phố, xã/phường), thông tin về quận/huyện/thị xã, tỉnh/thành phố thực hiện việc lựa chọn theodanh mục bảng mã địa phương.

- “Họ và tên cha” và “Họ và tên mẹ” ghi chính xác và đúng cột mục.Một số trường hợp ghi nhầm họ tên mẹ sang mục “ Họ và tên cha”

4.3. Cập nhật thông tin chung về án tích (Khoản 5 Điều 1 Thông tư số 16/2013/TT-BTP):

Thông tin chung về án tích trong Lý lịch tư pháp là thông tin tóm tắt về các bản án được cập nhật trong Lý lịch tư pháp và ghi theo thứ tự thời gian cập nhật bản án đó. Nội dung trong Mục “Thông tin chung về án tích” giúp cho cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp có thể nắm được khái quát tình trạng án tích của người có Lý lịch tư pháp và tiện tra cứu như qua mục này cán bộ lý lịch tư pháp biết được người có lý lịch tư pháp có bao nhiêu bản án, thời điểm chấp hành xong bản án, thời điểm được xóa án tích, kết quả giám đốc thẩm/tái thẩm (nếu có). Cách cập nhật thông tin trong phần này như sau:

a) Mã số bản án được cập nhật theo quy định tại Thông tư số 16 (chi tiết tại Phần sau)

b) Thời điểm được xóa án tích cập nhật trong các trường hợp nhận được quyết định xóa án tích của Tòa án, giấy chứng nhận xóa án tích của Tòa án hoặc có kết quả xác minh đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích;

c) Kết quả Giám đốc thẩm/Tái thẩm:

Trường hợp giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì ghi “Giữ nguyên bản án, quyết định”;

Trường hợp hủy bỏ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật thì ghi “Hủy bản án, quyết định”.

4.4. Cập nhật thông tin về án tích – Phần “Nội dung bản án”:

Thông tin về án tích là nội dung của từng bản án đã được đánh mã số ở Phần II. “Thông tin chung về án tích”. Nếu người bị kết án có nhiều án tích thì cập nhật các án tích đó theo thứ tự thời gian nhận được thông tin lý lịch tư pháp.

Cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp cần nắm rõ: Mỗi bản án được cập nhật có 04 phần chính bao gồm:

- Nội dung bản án;

- Tình trạng thi hành án: cập nhật nội dung của các quyết định, giấy chứng nhận, giấy xác nhận, văn bản thông báo (sau đây gọi chung là quyết định, giấy chứng nhận) liên quan đến quá trình thi hành bản án;

- Giám đốc thẩm/Tái thẩm: cập nhật nội dung của 02 loại quyết định.

- Xóa án tích:

a) Lập Lý lịch tư pháp đối với các trường hợp thông thường:

- Mã số bản án được lập theo mã số Lý lịch tư pháp và thêm thứ tự cập nhật bản án. Việc ghi mã số bản án giúp thuận tiện cho việc theo dõi số lượng bản án đã được cập nhật trong Lý lịch tư pháp.

Ví dụ: Nguyễn Văn A có mã số Lý lịch tư pháp là 25HN2013/00001, bản án đầu tiên được cập nhật trong Lý lịch tư pháp của Nguyễn Văn A có mã số là 25HN2013/00001/01, tương tự bản án tiếp theo nếu được cập nhật có mã số là 25HN2013/00001/02.

-  Mục nội dung bản án: các nội dung này được cập nhật vào Lý lịch tư pháp theo thông tin được ghi trên trích lục bản án hình sự.

- Ghi rõ tội danh, điều khoản luật áp dụng, hình phạt chính, hình phạt bổ sung theo nội dung trong trích lục bản án.

Một số điểm cần lưu ý trong phần cập nhật thông tin về nội dung bản án như sau:

- “Số bản án”: ghi rõ số bản án và ký hiệu của bản án (HSST hay HSPT). Thông thường số bản án sẽ bao gồm số thứ tự bản án được xử, năm xử  và cấp xử. Ví dụ:  216/2014/HSST.

- “Ngày,tháng, năm tuyên án” và “Tòa án đã tuyên”: ghi chính xác theo nội dung trong nguồn thông tin. Nếu là trích lục bản án hình sự phúc thẩm cần xác định tòa án cấp phúc thẩm nào đã xét xử (nếu tòa án cấp tỉnh thì ghi rõ là Tòa án nhân dân tỉnh..; nếu Tòa án cấp Trung ương thì ghi Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao).

- “Tội danh”: Cập nhật theo tội danh trong nguồn thông tin lý lịch tư pháp. Sử dụng “Bảng mã danh mục tội danh” trên Phần mềm để lựa chọn và cập nhật cho chính xác.

- “Điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng”: Chỉ cập nhật các điều khoản của Bộ luật hình sự được viện dẫn trong các ngồn thông tin. Cập nhật theo thứ tự điểm, khoản, điều của Bộ luật Hình sự và cần ghi rõ Bộ luật Hình sự năm nào

-  “Hình phạt chính”: Ghi theo nội dung có trong nguồn thông tin. Trong trường  hợp đương sự bị phạt tù cho hưởng án treo, thì phải cập nhật cả thời gian thử thách .

+ Trong một số trường hợp Tòa án tuyên bị cáo phạm 2 tội danh khác nhau thì phải rõ ghi từng tội và điều khoản luật áp dụng.

Ví dụ: Trường hợp bản án tuyên Nguyễn Văn A phạm hai tội “Mua bán trái phép chất ma túy” bị phạt 02 năm tù theo quy định tại khoản 1 Điều 194 BLHS và tội “Trộm cắp tài sản” bị phạt 01 năm tù theo quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS . Tổng hợp hình phạt là 03 năm tù. Bồi thường cho Trần Văn H…3.000.000đ; tịch thu sung công quỹ 2.000.000đ

Mục “hình phạt chính”  trong Bản lý lịch tư pháp phải ghi là: Phạt tù 3 năm: 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 năm tù  tội “Trộm cắp tài sản”

+ Trường hợp một người bị kết án về nhiều tội và đã được tổng hợp hình phạt theo quy định của Bộ luật hình sự thì Lý lịch tư pháp của người đó ghi rõ từng tội danh, điều khoản luật được áp dụng và hình phạt chung đối với các tội đó.

Ví dụ: Trường hợp của Trần Văn B phạm tội “ Trộm cắp tài sản” tuyên tại bản án số 15/2014/HSST ngày 20/2/2014 phạt 01 năm tù. Trần Văn B đồng thời cũng bị kết án về tội “Cưỡng đoạt tài sản” tại bản án số 58/2013/HSST ngày 20/8/2013 của Tòa án H. phạt 02 năm tù, nhưng chưa chấp hành án. Tổng hợp hình phạt Trần Văn B phải chịu hình phạt của hai bản án nêu trên là 03 năm tù

Mục “hình phạt chính”  trong Bản lý lịch tư pháp phải ghi là: Phạt tù 3 năm: 01 năm tù  tội “Trộm cắp tài sản” và 02 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” tại bản án số 58/2013/HSST ngày 20/8/2013 của Tòa án H.

- “Hình phạt bổ sung”: dùng để cập nhật trong trường hợp người bị kết án phải chịu hình phạt chính và hình phạt bổ sung.

- “Nghĩa vụ dân sự”: cập nhật đối với việc bồi thường, cấp dưỡng hàng tháng…

- “Biện pháp tư pháp”: cập nhật đối với các vấn đề liên quan đến tịch thu, tiêu hủy vật chứng…

- “Án phí”: ghi đầy đủ án phí hình sự và án phí dân sự. Thông thường các bản án HSST, những người bị kết án thường phải chịu án phí theo quy định. Tuy nhiên, các trường hợp cập nhật bản án phúc thẩm thì không phải mọi trường hợp người kháng cáo phải đều phải chịu  án phí hình sự phúc thẩm. Theo quy định của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án năm 2009, người kháng cáo không phải chịu án phí trong một số trường hợp sau:

+ Nếu  Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm để điều tra, xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án

+ Người kháng cáo rút đơn kháng cáo trước khi mở phiên tòa phúc thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm

+  Tòa án chấp nhận yêu cầu kháng cáo của họ.

- “ Thời điểm chấp hành hình phạt chính”:  Trong trường hợp có thời điểm cụ thể về thời điểm chấp hành hình phạt chính, thì ghi . Trường hợp chưa rõ về thời điểm chấp hành hình phạt chính như “ kể từ ngày chấp hành án” hoặc “ kể từ ngày cơ quan, tổ chức hoặc Ủy ban nhân dân xã…nhận được bản án và Quyết định thi hành án”,thì ghi theo các  nội dung đó.

- “Ghi chú”: dùng để ghi trong các trường hợp như lập lý lịch tư pháp theo tiền án trong bản án…

b) Một số lỗi cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp thường hay nhầm khi lập Lý lịch tư pháp:

- Nội dung thông tin về “số bản án” và “Tòa án đã tuyên” phải thống nhất với nhau. Trong nhiều trường hợp cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp nhầm lẫn, cập nhật thông tin về số bản án với ký hiệu là HSPT ( hình sự phúc thẩm), nhưng khi cập nhật thông tin về Tòa đã tuyên lại là Tòa cấp huyện.

- Hay nhầm giữa “tội danh” và “điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng”

 VD: Cập nhật là tội “Trộm cắp tài sản” nhưng phần điều khoản lại cập nhật là  Điều 250. Theo Bộ luật Hình sự thì Điều 250 là tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, còn tội “Trộm cắp tài sản” phải cập nhật là Điều 136.

- Thường hay nhầm khi cập nhật hình phạt chính là “Phạt tù cho hưởng án treo”, trong các trường hợp này nhất thiết phải cập nhật cả thời gian thử thách án treo, nhưng thường hay quên không ghi thời gian thử thách án treo trong phần nội dung bản án. Có trường hợp thời gian thử thách án treo lại chỉ được cập nhật trong phần Quyết định thi hành án.

- Hay nhầm giữa việc cập nhật về thời gian thử thách án treo và  hình phạt chính “ phạt tù cho hưởng án treo”, ví dụ:  trong phần nội dung Bản án cập nhật “18 tháng tù cho hưởng án treo”, nhưng ở phần Quyết định thi hành án lại ghi  là “Thi hành 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng”. Trong trường này cập nhật đúng trong phần nội dung Bản án phải ghi là “Thi hành 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng”

- Ghi tổng hợp hình phạt nhầm ( ví dụ : người bị kết án phạm 3 tội, trong đó  ghi rõ mỗi tội thời gian là bao nhiêu năm, nhưng khi kiểm tra lại thì thời gian không giống như số năm tổng hợp ghi trong phần “Hình phạt chính”. Một số trường hợp cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp hoặc không cập nhật việc  tổng hợp hình phạt

- Một số cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp, khi thực hiện tác nghiệp trên Phần mềm hay nhầm:

+  Chọn nhầm giữa hình phạt và thời gian ( ví dụ: chọn hình phạt tù có thời hạn nhưng lại ghi về thời gian thử thách án treo); hoặc  cập nhật hình phạt 14 năm 06 tháng vào hình phạt tù cho hưởng án treo ( Theo quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự khi xử phạt tù không quá 3 năm, căn cứ váo nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 01-05 năm);

+ Chọn nhầm danh sách, tội danh Tòa án của Séc (hướng tới sẽ tách riêng hai hai danh sách tội danh)

+ Cập nhật không thống nhất giữa: hình phạt trong bản án và quyết định thi hành án, ví dụ: trên hình phạt chính cập nhật là 30 tháng tù, nhưng tại phần nội dung của quyết định thi hành án lại cập nhật là 13 tháng. Thời điểm chấp hành hình phạt chính tại phần nội dung Bản án và nội dung Quyết định thi hành án khác nhau

+ Cập nhật sai mục: ví dụ  hình phạt bổ sung là quản chế, thì phải cập nhật vào mục hình phạt bổ sung, nhưng lại cập nhật vào mục Ghi chú.

Lập Lý lịch tư pháp là một trong những công việc quan trọng đòi hỏi người cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp phải cẩn thận, chi tiết và có những kỹ năng nghiệp vụ chuyên sâu. Hy vọng trong phạm vi bài viết nêu trên sẽ giúp ích một phần công việc của cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp trong việc thực hiện công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp hiện nay.