Lập lý lịch tư pháp trong một số trường hợp đặc biệt
Sign In

Lập lý lịch tư pháp trong một số trường hợp đặc biệt

29/05/2015

Theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật này, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia và các Sở Tư pháp có trách nhiệm lập Lý lịch tư pháp đối với những trường hợp sau đây:

- Người bị Toà án Việt Nam kết án kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2010.

- Người bị Toà án Việt Nam kết án trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 nhưng từ ngày 01 tháng 7 năm 2010, Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp nhận được thông tin lý lịch tư pháp của người đó do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp theo quy định tại các điều từ Điều 16 đến Điều 21 của Luật Lý lịch tư pháp.

Theo quy định tại Điều 11 của Nghị định số 111/2010/NĐ-CP, trong trường hợp người bị Toà án Việt Nam kết án trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 nhưng từ ngày 01 tháng 7 năm 2010, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp nhận được thông tin lý lịch tư pháp về án tích của người đó (ví dụ: giấy chứng nhận đã chấp hành xong hình phạt, giấy chứng nhận đặc xá…) thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị Tòa án cung cấp bản sao bản án đối với người bị kết án, các cơ quan có thẩm quyền cung cấp thêm thông tin về việc chấp hành xong hình phạt, đặc xá, đại xá, thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản và các quyết định dân sự trong bản án hình sự đối với người bị kết án. Trên cơ sở bản sao bản án, các thông tin khác do Toà án và các cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp có trách nhiệm lập Lý lịch tư pháp của người bị kết án.

- Người bị Toà án Việt Nam kết án trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 nhưng từ ngày 01 tháng 7 năm 2010, Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp được cơ quan Công an, Toà án, cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Quốc phòng cung cấp thông tin về tình trạng án tích của người đó để cấp Phiếu lý lịch tư pháp.

Nghị định số 111/2010/NĐ-CP đã quy định rõ người bị Toà án Việt Nam kết án trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 nhưng từ ngày 01 tháng 07 năm 2010, Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp nhận được thông tin về tình trạng án tích của người đó do cơ quan Công an, Toà án, cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Quốc phòng cung cấp để cấp Phiếu lý lịch tư pháp thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp, nơi thực hiện việc cấp Phiếu lý lịch tư pháp tiến hành lập Lý lịch tư pháp của người đó.

Trong trường hợp cần có thêm thông tin về án tích của người bị kết án để lập Lý lịch tư pháp của những người này thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp gửi văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền cung cấp thêm thông tin như trong trường hợp lập Lý lịch tư pháp đối với người bị Tòa án Việt Nam kết án trước ngày 01 tháng 7 năm 2010 nêu trên.

- Công dân Việt Nam bị Tòa án nước ngoài kết án mà trích lục bản án, trích lục án tích của người đó được Viện Kiểm sát nhân dân tối cao cung cấp cho Trung tâm lý lịch tư pháp quốc gia kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2010.

- Công dân Việt Nam bị Tòa án nước ngoài kết án được chuyển giao để chấp hành hình phạt tù tại Việt Nam kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2010.

Trong  bài viết  “Lập Lý lịch tư pháp – một số điểm cần chú ý khi thực hiện” đã được đăng trên Trang tin Lý lịch tư pháp, chúng tôi đã giới thiệu cách lập Lý lịch tư pháp đối với một án tích thông thường. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong những trường hợp lập Lý lịch tư pháp có những điểm đặc biệt yêu cầu cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp phải lưu ý hơn khi thực hiện các tác nghiệp. Trong bài viết này, chúng tôi sẽ đi sâu phân tích một số lưu ý khi lập Lý lịch tư pháp đối với những trường hợp đặc biệt, cụ thể như sau:

1. Lập Lý lịch tư pháp trong trường hợp nhận được bản án phúc thẩm

 Trên thực tế, rất nhiều trường hợp bản án sơ thẩm bị kháng cáo hoặc kháng nghị và được Tòa án có thẩm quyền xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Khi nhận được bản án sơ thẩm và phúc thẩm, cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp cần nghiên cứu kỹ bản án phúc thẩm và bản án sơ thẩm để thực hiện việc lập Lý lịch tư pháp.  Trường hợp lập Lý lịch tư pháp khi nhận được bản án phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Thông tư số 06/2013/TT-BTP ngày 06/02/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn việc quản lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp và khoản 3 Điều 1 Thông tư số 16/2013/TT-BTP sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 13/2011/TT-BTP ngày 27/6/2011, cụ thể như sau:

a) Trường hợp bản án hình sự phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm

Trường hợp này, cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp thực hiện lập Lý lịch tư pháp trên cơ sở bản án hình sự sơ thẩm, đồng thời cập nhật cả bản án phúc thẩm vào Lý lịch tư pháp theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 11 Thông tư số 06/2013/TT-BTP, cụ thể như sau:

- Đối với bản án hình sự sơ thẩm: cập nhật những nội dung của bản án hình sự sơ thẩm theo các trường thông tin tương ứng trên Phần mềm quản lý lý lịch tư pháp dùng chung . Mã số bản án sơ thẩm là 01.

- Đối với bản án hình sự phúc thẩm: chỉ cập nhật các trường thông tin sau: số bản án, ngày tháng năm tuyên án, Tòa án đã tuyên bản án, án phí. Các nội dung mà bản án hình sự phúc thẩm tuyên giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm không cập nhật vào Lý lịch tư pháp. Mã số bản án phúc thẩm là 01PT.

Cách cập nhật trên Phần mềm Quản lý lý lịch tư pháp như sau:

Bước 1: Cập nhật bản án sơ thẩm theo màn hình dưới đây, mã số bản án sơ thẩm là 01:

 

 

 

Màn hình cập nhập trên Phần mềm:

Bước 2: Bấm nút nhập HSPT, nhập theo màn hình dưới đây, mã số bản án phúc thẩm là 01PT:

 

 

 

Lưu ý: Trong trường hợp này, khi thực hiện việc in bản Lý lịch tư pháp, đối với phần bản án hình sự phúc thẩm sẽ ghi  “y án sơ thẩm”

b) Trường hợp bản án hình sự phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và sửa bản án hình sự sơ thẩm:

Trường hợp này, Lý lịch tư pháp được lập trên cơ sở bản án hình sự phúc thẩm, đồng thời cán bộ lập Lý lịch tư pháp thực hiện cập nhật cả bản án hình sự sơ thẩm vào Lý lịch tư pháp theo quy định tại điểm b, khoản 3 Điều 11 Thông tư số 06/2013/TT-BTP như sau:

- Đối với bản án hình sự phúc thẩm: chỉ cập nhật những nội dung mà bản án hình sự phúc thẩm sửa bản án hình sự sơ thẩm. Những nội dung mà bản án hình sự phúc thẩm không đề cập đến thì không cập nhật vào Lý lịch tư pháp. Mã số bản án phúc thẩm là 01.

- Đối với bản án hình sự sơ thẩm: cập nhật các thông tin trong bản án hình sự sơ thẩm vào Lý lịch tư pháp theo các trường thông tin trên Phần mềm quản lý lý lịch tư pháp dùng chung. Mã số bản án sơ thẩm là 01ST.

(Xem thêm hướng dẫn tại Công văn số 12/TTLLTPQG-DLLLTP ngày 7/1/2014 của Trung tâm LLTPQG gửi Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc triển khai thực hiện Thông tư số 16/2013/TT-BTP).

Cách cập nhật trên Phần mềm như sau:

Bước 1: Cập nhật bản án phúc thẩm theo màn hình dưới đây, mã số bản án phúc thẩm là 01:

 

 

 

Bước 2: Bấm nút nhập HSST, nhập theo màn hình dưới đây, mã số bản sơ thẩm là 01ST:

 

 

 

c) Một số lưu ý:

- Trường hợp bản án phúc thẩm hủy án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án để điều tra lại hoặc xét xử lại thì Sở Tư pháp chưa lập Lý lịch tư pháp mà chờ bản án có hiệu lực pháp luật để lập Lý lịch tư pháp;

- Trường hợp bản án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án thì Sở Tư pháp không lập Lý lịch tư pháp.

2. Lập Lý lịch tư pháp trong trường hợp Bản án có các tiền án

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 13 Thông tư số 06/2013/TT-BTP “Trường hợp bản án có thông tin về tiền án của người bị kết án và nội dung của tiền án chưa có trong Lý lịch tư pháp của người đó, Sở Tư pháp thực hiện cập nhật bổ sung thông tin của tiền án như một bản án tiếp theo vào Lý lịch tư pháp của người đó và ghi chú rõ là tiền án trong bản án nào”.

Tuy nhiên, hiện nay một số Sở Tư pháp không cập nhật thông tin của tiền án như một bản án tiếp theo vào Lý lịch tư pháp theo quy định nêu trên, mà chỉ thực hiện ghi chú thông tin về tiền án trong Lý lịch tư pháp của cá nhân đó.

Để bảo đảm tính đầy đủ, đồng bộ dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại Sở Tư pháp và tại Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, đồng thời bảo đảm thực hiện theo đúng quy định của Thông tư số 06/2013/TT-BTP, trong trường hợp nhận được bản án có thông tin về tiền án của người bị kết án và nội dung của tiền án đó chưa có trong Lý lịch tư pháp của người đó, cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp cần thực hiện cập nhật bổ sung thông tin của tiền án theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 13 Thông tư số 06/2013/TT-BTP. Đồng thời, đề nghị Tòa án có thẩm quyền cung cấp bản án của án tích đó. Trên cơ sở bản án do Tòa án cung cấp, Sở Tư pháp thực hiện bổ sung những thông tin còn thiếu vào Lý lịch tư pháp của người bị kết án và cung cấp thông tin cho Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia.

3. Lập Lý lịch tư pháp trong trường hợp nhận được các quyết định, giấy chứng nhận liên quan đến tình trạng thi hành án của người bị Toà án Việt Nam kết án trước ngày 01 tháng 7 năm 2010

Theo quy định tại  Điều 11, Điều 12 Nghị định số 111/2010/NĐ-CP, khoản 2 Điều 11 Thông tư số 06/2013/TT-BTP, đối với những người bị Tòa án Việt Nam kết án trước ngày 01/7/2010 (ngày Luật Lý lịch tư pháp có hiệu lực thi hành), Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp cũng có trách nhiệm lập Lý lịch tư pháp trong 02 trường hợp sau đây:

- Thứ nhất, trường hợp nhận được thông tin lý lịch tư pháp của người bị Tòa án Việt Nam kết án trước ngày 01/7/2010 như quyết định thi hành án hình sự, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, đặc xá, đại xá, giấy xác nhận kết quả thi hành án dân sự hoặc các thông tin lý lịch tư pháp khác có liên quan đến người bị kết án, nhưng chưa nhận được bản án có hiệu lực pháp luật thì Sở Tư pháp hoặc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện lập Lý lịch tư pháp trên cơ sở quyết định, giấy chứng nhận đã nhận được và ghi rõ nguồn thông tin để lập Lý lịch tư pháp. Đồng thời yêu cầu Tòa án đã xét xử vụ án cung cấp bản án có hiệu lực pháp luật. Trên cơ sở bản án do Tòa án cung cấp, Sở Tư pháp hoặc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện cập nhật bổ sung những thông tin còn thiếu vào Lý lịch tư pháp đã được lập.

Lưu ý:  Trong trường hợp nhận được các thông tin về tình trạng thi hành án như quyết định thi hành án hình sự, giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù, đặc xá, đại xá, giấy xác nhận kết quả thi hành án dân sự… thì sau khi lập Lý lịch tư pháp, cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp cập nhật luôn nội dung của quyết định, giấy chứng nhận đó vào Lý lịch tư pháp đã lập - mục “Tình trạng thi hành án” .

- Thứ hai, trường hợp kết quả tra cứu, xác minh của cơ quan công an, Tòa án, cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Quốc phòng cho thấy người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp “có án tích”, nhưng trong cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp chưa có Lý lịch tư pháp của người đó, thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia hoặc Sở Tư pháp nơi thực hiện cấp Phiếu lý lịch tư pháp tiến hành lập Lý lịch tư pháp. Đồng thời, Sở Tư pháp hoặc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia yêu cầu Tòa án đã xét xử vụ án cung cấp bản án có hiệu lực pháp luật. Trên cơ sở bản án do Tòa án cung cấp, Sở Tư pháp hoặc Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia thực hiện cập nhật bổ sung những thông tin còn thiếu vào Lý lịch tư pháp đã được lập.

4. Những trường hợp không lập Lý lịch tư pháp

Theo quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp, đối với một số trường hợp, thì cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp không phải thực hiện lập Lý lịch tư pháp. Cụ thể như sau:

            Theo quy định tại Điều 12 Thông tư số 06/2013/TT-BTP ngày 06/02/2013 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn việc quản lý, sử dụng và khai thác cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp thì Trung tâm Lý lịch tư pháp quốc gia, Sở Tư pháp không lập Lý lịch tư pháp của người bị kết án trong những trường hợp sau đây:

a) Nhận được quyết định đình chỉ việc chấp hành án phạt tù trong trường hợp người đang chấp hành án phạt tù chết, thông báo phạm nhân chết nhưng chưa nhận được bản án hoặc các quyết định, giấy chứng nhận khác có liên quan đến án tích của người đó.

b) Nhận được bản án có hiệu lực pháp luật tuyên bị cáo vô tội hoặc tuyên miễn trách nhiệm hình sự.

c) Nhận được quyết định thi hành bản án hoặc quyết định thi hành án tử hình nhưng chưa nhận được bản án hoặc các quyết định, giấy chứng nhận khác có liên quan đến án tích của người đó.

Cán bộ làm công tác lý lịch tư pháp cần nắm bắt rõ cách thức cập nhật thông tin lý lịch tư pháp trong một số trường hợp nêu trên để phục vụ cho công tác xây dựng cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp tại địa phương.