Thực hiện Luật lý lịch tư pháp và vấn đề xóa án tích - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Sign In

Thực hiện Luật lý lịch tư pháp và vấn đề xóa án tích - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn

05/06/2017

Tóm tắt: Lý lịch tư pháp là lý lịch về án tích của người bị kết án. Phiếu lý lịch tư pháp (LLTP) được coi là giấy tờ pháp lý quan trọng chứng minh một người có hay không có án tích. Hiện nay, trong nhiều trường hợp, phiếu LLTP trở thành một trong những giấy tờ bắt buộc phải có của cá nhân. Tuy nhiên, để thực hiện việc xóa án tích để ghi vào LLTP nội dung “không có án tích” lại liên quan chặt chẽ đến quy định của pháp luật hình sự về vấn đề này và trong thực tế đang còn nhiều khó khăn, vướng mắc liên quan đến vấn đề LLTP và thủ tục xóa án tích. Bài viết này sẽ là sự phân tích, đánh giá và đưa ra một số đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

1. Xóa án tích theo quy định của pháp luật hình sự
Xóa án tích là một chế định mang tính nhân đạo của pháp luật hình sự, thể hiện sự thừa nhận về mặt pháp lý người bị kết án không còn mang án tích nữa và vì vậy không phải tiếp tục gánh chịu hậu quả do việc kết án mang lại. Biểu hiện pháp lý cơ bản nhất của chế định xóa án tích là người được xóa án tích “coi như chưa bị kết án”. BLHS năm 2015 đã sửa đổi cơ bản chế định xóa án tích cho người bị kết án theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người bị kết án tái hòa nhập cộng đồng, ổn định để làm ăn, sinh sống. Theo đó, BLHS năm 2015 quy định 05 trường hợp người bị kết án không bị coi là có án tích, đây là quy định mới so với pháp luật hình sự trước đó; cụ thể là: người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bị kết án không kể về tội gì;  người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng; người đã thành niên bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt (khoản 2 Điều 69 và Điều 107 của BLHS năm 2015). BLHS năm 2015 cũng quy định thời điểm được xóa án tích sớm hơn so với BLHS năm 1999 (khoản 2, khoản 3 Điều 70 BLHS năm 2015). Đặc biệt, BLHS năm 2015 đã bỏ quy định Tòa án cấp giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích cho người bị kết án, mà giao trách nhiệm cho cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cập nhật thông tin về tình trạng án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp Phiếu LLTP xác nhận không có án tích nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của BLHS năm 2015. Tại khoản 4 Điều 70 BLHS năm 2015 quy định: “Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp Phiếu LLTP xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này”. Đồng thời, khoản 1 Điều 369 của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015 quy định: “Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của BLHS thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP cấp Phiếu LLTP là họ không có án tích”.
Ngoài ra, cùng với việc quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại, BLHS năm 2015 cũng đã bổ sung quy định pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới (Điều 89).
2. Quy định của pháp luật về lý lịch tư pháp liên quan đến vấn đề xóa án tích
Điều 33 Luật LLTP năm 2009 quy định:
“Trung tâm LLTP quốc gia, Sở Tư pháp có nhiệm vụ cập nhật, xử lý thông tin LLTP trong trường hợp người bị kết án được xóa án tích, cụ thể:
1. Khi nhận được giấy chứng nhận xóa án tích hoặc quyết định xóa án tích của Tòa án thì ghi “đã được xóa án tích” vào LLTP của người đó
2. Khi xác định một người có đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định của Bộ luật Hình sự thì ghi “đã được xóa án tích” vào LLTP của người đó”.
 Đồng thời, khoản 3 Điều 44 Luật LLTP năm 2009 quy định: “Trong trường hợp cần thiết, Trung tâm LLTP quốc gia, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích khi cấp Phiếu LLTP”.
Như vậy, theo quy định của Luật LLTP năm 2009, trong quá trình cập nhật thông tin của người bị kết án, khi xác định được người bị kết án đã có đủ điều kiện đương nhiên được xóa án tích, Trung tâm LLTP quốc gia, Sở Tư pháp có nhiệm vụ cập nhật thông tin, ghi rõ việc “đã được xóa án tích” vào Phiếu LLTP của người bị kết án; trường hợp cấp Phiếu LLTP cho người đó thì Phiếu LLTP số 1 được cấp sẽ ghi là “không có án tích”. Quy định của Luật LLTP năm 2009 đã tạo thêm một khả năng hay một cơ hội để cho công dân lựa chọn cách thức xác nhận sự kiện mình được xóa án tích sao cho tiện lợi nhất.
Nghị định số 111/2010/NĐ-CP ngày 23/11/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật LLTP (Điều 17) đã quy định trách nhiệm của Trung tâm LLTP quốc gia, Sở Tư pháp trong việc xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích của người bị kết án. Việc xác minh được tiến hành trong trường hợp người bị kết án đã có đủ thời gian để đương nhiên được xóa án tích theo quy định của BLHS, nhưng cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP chưa nhận được giấy chứng nhận đương nhiên xóa án tích đối với người đó do Tòa án gửi đến.
Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP có nhiệm vụ xác minh về việc người đó có bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong thời hạn đang có án tích hay không. Việc xác minh được thực hiện tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú, làm việc sau khi chấp hành xong bản án. Cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã có nhiệm vụ giúp UBND thực hiện phối hợp xác minh. Trong quá trình xác minh tại UBND cấp xã, cơ quan, tổ chức, nếu thấy cần thiết thì xác minh tại cơ quan tiến hành tố tụng có liên quan. Trình tự, thủ tục xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích cũng được hướng dẫn chi tiết tại Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 10/5/2012 của Bộ Tư pháp - Tòa án nhân dân tối cao - Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Công an - Bộ Quốc phòng, hướng dẫn trình tự, thủ tục tra cứu, xác minh, trao đổi, cung cấp thông tin LLTP.
3. Những bất cập, vướng mắc từ thực tiễn và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật lý lịch tư pháp liên quan đến vấn đề xóa án tích trong những năm qua, bên cạnh những thuận tiện cho người dân và tính hợp lý trong quy định của pháp luật liên quan đến việc phân công thực thi các lĩnh vực, bộ phận trong quyền lực nhà nước vì mục tiêu phục vụ nhân dân thì cũng còn nhiều vấn đề còn bất cập, vướng mắc, hiệu quả thực tế không cao hoặc thiếu thống nhất giữa quy định của pháp luật và thực tiễn đời sống xã hội.
Một là, tìm hiểu công tác xác minh điều kiện đương nhiên được xóa án tích theo quy định của pháp luật về LLTP cho thấy, thời gian qua, hầu hết những người đã có án tích đến xin cấp Phiếu LLTP, để bảo đảm thời hạn cấp Phiếu LLTP, Sở Tư pháp thường hướng dẫn người dân đến Tòa án xin cấp giấy chứng nhận xóa án tích của Tòa án. Trên cơ sở giấy chứng nhận của Tòa án, Sở Tư pháp cấp Phiếu LLTP cho người dân. Chỉ có một số ít trường hợp Sở Tư pháp trực tiếp xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích khi cấp Phiếu LLTP. Tuy nhiên, quy định pháp luật liên quan đến thủ tục này vẫn chưa tránh khỏi sự rườm rà, phức tạp cho người dân hoặc buộc họ phải chờ đợi trong thời gian khá dài để chờ xác minh. Bởi vì, nếu người dân tự đến Tòa án xin cấp giấy chứng nhận xóa án tích thì theo luật hiện hành, để được cấp giấy chứng nhận xóa án tích, người bị kết án phải tự mình đến các cơ quan có liên quan đến xin các giấy tờ chứng nhận khác như xin giấy xác nhận đã chấp hành xong các hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án, xác nhận về việc không phạm tội mới, tuân thủ pháp luật;… những thủ tục này không hề đơn giản đối với những người mới chấp hành xong án hình sự. Nếu thuộc trường hợp, cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu LLTP tiến hành xác minh thì, mặc dù xác minh với số lượng rất ít, nhưng các Sở Tư pháp đã gặp nhiều trường hợp rất khó khăn khi xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích mà khó khăn lớn nhất đó là không có đủ thông tin về bản án hoặc người bị kết án đã chấp hành đầy đủ quyết định của Tòa án trong bản án chưa (như người đó đã chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, án phí, trách nhiệm dân sự cũng như thông tin người đó có phạm tội mới trong thời hạn quy định để đương nhiên được xóa án tích không, đặc biệt là đối với thông tin có trước ngày Luật Lý lịch tư pháp năm 2009 có hiệu lực pháp luật (ngày 01/7/2010). Nhiều trường hợp, bản án đã được Tòa án tuyên khá lâu nên người bị kết án cũng như các cơ quan có liên quan không còn lưu giữ được các giấy tờ, tài liệu liên quan đến việc thi hành bản án hoặc trường hợp một người có nhiều án tích hoặc cư trú ở nhiều địa phương khác nhau. Bất cập này có lẽ xuất phát từ việc quy định của pháp luật về LLTP đã đưa quan hệ đó đi trước quá xa so với thực trạng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, khi cơ quan quản lý dữ liệu LLTP và các cơ quan khác có liên quan chưa được chuẩn bị sẵn sàng để có thể tích hợp đầy đủ cơ sở dữ liệu đáp ứng ngay yêu cầu của người dân về cấp Phiếu LLTP xác nhận tình trạng không có án tích. Điều đó dẫn đến thực trạng, tưởng chừng như quy định của pháp luật LLTP là quy định tiến bộ và có lợi cho người dân nhưng thực ra là “có hại” hay nói cách khác là thêm phiền hà phức tạp cho người dân và cũng khó khăn thêm cho hệ thống cơ quan có thẩm quyền cấp phiếu LLTP. Bởi vì, rốt cuộc vẫn phải Tòa án cấp giấy chứng nhận xóa án tích trong khi BLHS năm 2015 đã bỏ quy định này; hơn nữa, thay vì người dân trực tiếp đến Tòa án xin xóa án tích thì họ phải đến Sở Tư pháp xin cấp phiếu LLTP trước, sau đó theo yêu cầu của Sở tư pháp họ phải đến Tòa án xin giấy chứng nhận xóa án tích, rồi lại phải quay lại nộp cho Sở Tư pháp để được cấp Phiếu LLTP xác nhận tình trạng “không có án tích”. Điều này có lẽ cũng phải chấp nhận, bởi vì hiện nay Trung tâm LLTP quốc gia hay các Sở Tư pháp chưa có cơ sở để cập nhật, tích hợp đủ dữ liệu LLTP. Bất cập đó làm cho quy định tại khoản 4 Điều 70 BLHS năm 2015 trở nên không có giá trị trong thực tế. Nhiều ý kiến đã kiến nghị bãi bỏ khoản 4 Điều 70 BLHS năm 2015 vì không khả thi, nhưng nếu bỏ thì phải bỏ cả khoản 1 Điều 369 BLTTHS năm 2015; trong khi đó, theo Nghị quyết số 144/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội, trước mắt BLTTHS năm 2015 chỉ dừng hiệu lực thi hành chứ chưa tiến hành sửa đổi, bổ sung cùng với BLHS năm 2015. Chưa kể đến những trường hợp như: một số bộ phận cán bộ của Tòa được phân công phụ trách việc cung cấp thông tin chưa nhận thức đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc cung cấp thông tin LLTP cho Sở Tư pháp; người có trách nhiệm nghĩ Sở Tư pháp đề nghị cung cấp thông tin LLTP là không quan trọng, văn bản đề nghị Tòa phối hợp cung cấp, đối chiếu thông tin đa số được xử lý chậm, không đúng thời gian cung cấp theo quy định; hoặc Sở Tư pháp yêu cầu xác minh, đối chiếu lại thông tin nhưng không nhận được văn bản phản hồi từ cơ quan được yêu cầu;...
Hai là, về việc cấp Phiếu LLTP số 2, theo quy định tại Điều 42 của Luật LLTP thì nội dung của phiếu LLTP số 1 không thể hiện tất cả các thông tin về tình trạng án tích như phiếu LLTP số 2 (trong trường hợp có án tích và đã được xóa án tích), theo quy định tại điểm b Điều 43 của Luật này quy định về nội dung của phiếu LLTP số 2 phải được thể hiện đầy đủ các thông tin về  án tích đã được xoá, thời điểm được xoá án tích, án tích chưa được xóa, ngày, tháng, năm tuyên án, số bản án,… và trường hợp người bị kết án bằng các bản án khác nhau thì thông tin về án tích của người đó được ghi theo thứ tự thời gian. Như vậy, phiếu LLTP số 2 là phiếu đảm bảo bí mật đời tư của một cá nhân; tuy nhiên, trong thực tế khi công dân khi tới giao dịch tại các cơ quan, tổ chức, trong đó có các cơ quan, tổ chức nước ngoài, thì hầu hết các cơ quan, tổ chức đều yêu cầu công dân phải xuất trình phiếu LLTP số 2. Thiết nghĩ, để tạo điều kiện thuận lợi cho công dân nên chăng bỏ Phiếu LLTP số 2 để đảm bảo giữ bí mật đời tư và giảm bớt khó khăn, trở ngại cho người dân trong giao dịch, đặc biệt là giao dịch với cá nhân, tổ chức nước ngoài.
Ba là, trong khi BLHS năm 2015 quy định một trong những điều kiện đương nhiên được xóa án tích là người bị kết án “không thực hiện hành vi phạm tội mới” trong thời hạn Bộ luật này quy định (khoản 2 Điều 70) và theo quy định tại Điều 179 BLTTHS năm 2015 thì “khi có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà BLHS quy định là tội phạm thì cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can”. Như vậy, có thể xác định một người thực hiện hành vi phạm tội khi người đó bị khởi tố bị can. Nhưng để thực hiện nhiệm vụ quản lý, theo dõi thông tin về điều kiện đương nhiên được xóa án tích của cá nhân theo quy định của BLHS năm 2015, cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP rất khó khăn vì cơ sở dữ liệu LLTP hiện nay không quản lý và lưu trữ các thông tin từ giai đoạn khởi tố mà chỉ lưu trữ, quản lý thông tin từ giai đoạn có bản án có hiệu lực pháp luật. Bởi vậy, quy định “không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn…” tại khoản 2 Điều 70 BLHS năm 2015 là quy định không chính xác, phải được bằng quy định “không bị kết án về tội mới bằng bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật” để bảo đảm quyền được suy đoán không có tội theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 và thống nhất với quy định của Luật LLTP.
Bốn là, Điều 89 của BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định về đương nhiên xóa án tích cho các pháp nhân thương mại bị kết án nhưng không giao cho cơ quan nào có trách nhiệm quản lý, theo dõi. Trong khi, Điều 446 của BLTTHS năm 2015 đã quy định về thủ tục đương nhiên xóa án tích đối với pháp nhân, theo đó, “trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của pháp nhân được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 89 của BLHS thì Chánh án Tòa án đã xét xử sơ thẩm vụ án cấp giấy chứng nhận pháp nhân đã được xóa án tích”. Như vậy có thể thấy, theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì việc theo dõi và cấp giấy chứng nhận đương nhiên được xóa án tích cho pháp nhân thương mại bị kết án do Tòa án thực hiện. Nhưng từ đó lại đặt ra một vấn đề là cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu LLTP có cần thiết lập hồ sơ án tích của pháp nhân để theo dõi và cung cấp thông tin cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay không?
Năm là, việc tích hợp và “liên thông phân phối, sử dụng” dữ liệu giữa Trung tâm LLTP quốc gia với các Sở Tư pháp cũng như giữa các Sở Tư pháp với nhau, hiện tại cũng gần như chưa được thực hiện; đây là khó khăn, vướng mắc gặp rất nhiều trong thực tiễn đối với những cá nhân (và pháp nhân thương mại khi thực hiện BLHS năm 2015) bị kết án ở địa phương (tỉnh, thành phố) này nhưng có nhu cầu cấp Phiếu LLTP để xác nhận “không có án tích” ở địa phương khác.
Sáu là, đối với những người bị Tòa án quân sự kết án có nhu cầu cấp Phiếu LLTP xác nhận “không có án tích”, hiện tại vẫn chưa có quy định và cũng chưa hề được chuẩn bị cơ sở hạ tầng kỹ thuật về việc tích hợp và cung cấp dữ liệu về vấn đề này cho Trung tâm LLTP quốc gia hay Sở Tư pháp có liên quan. Cho nên việc cấp Phiếu LLTP xác nhận tình trạng “không có án tích” khi đủ điều kiện đối với những người này đang là một “khoảng trống” trong thực tiễn. Do đó, thông thường, khi có yêu cầu xóa án tích thì các Tòa án quân sự thường tiến hành cấp giấy chứng nhận xóa án tích cho người có yêu cầu, nếu đủ điều kiện luật định, chứ nếu máy móc yêu cầu người xin cấp giấy chứng nhận đương nhiên xóa án tích liên hệ Sở Tư pháp để được giải quyết theo thẩm quyền luật định thì sự việc sẽ trở nên rất rắc rối, phức tạp và thực tế gần như sẽ không được giải quyết với lý do “không có dữ liệu về án tích do các Tòa án quân sự cung cấp”
Hiện nay, BLHS năm 2015 đang được tiến hành sửa đổi theo Nghị quyết số 144/2016/QH13 ngày 29/6/2016 của Quốc hội và Dự án Luật LLTP (sửa đổi) cũng đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017 theo Nghị quyết số 22/2016/QH14 ngày 29/7/2016 của Quốc hội. Thiết nghĩ, những hạn chế, bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành Luật LLTP năm 2009 và những yêu cầu của quy định pháp luật mới được ban hành, mà cụ thể là vấn đề xóa án tích theo quy định của BLHS năm 2015, BLTTHS năm 2015, cần được nghiên cứu thận trọng, nghiêm túc và sửa đổi, bổ sung cho thật sự thống nhất, kịp thời và phù hợp với thực tiễn đời sống xã hội, đặc biệt là vấn đề quy định trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền cấp Phiếu LLTP về việc xác minh tình trạng án tích của người yêu cầu cấp Phiếu LLTP./.
                                                           Th.S Nguyễn Văn Đổng - Tòa án quân sự Quân khu 4